Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013


Sông Đa Độ chảy qua địa bàn các huyện, đổ ra cửa sông Cổ Trai, huyện Kiến Thụy với chiều dài 50km. Cửa sông Cổ Trai – phía cuối của sông Đa Độ được xây cống Cổ Tiểu để tiêu nước Đa Độ ra biển Đông. Nhờ có dòng nước trao đổi, Đa Độ là con sông sạch, ít ô nhiễm, là nguồn cung cấp nước thô cho các Nhà máy nước Cầu Nguyệt ở quận Kiến An, Hưng Đạo ở quận Dương Kinh và Nhà máy nước ở quận Đồ Sơn. Vậy mà gần đây, sông Đa Độ đang bị xâm hại.
Hiện nay, hai bên bờ sông có nhiều nhà ở, công trình phụ, xưởng sản xuất, trang trại nuôi gia súc, gia cầm… ngay sát mép sông. Nhiều nơi, người dân làm quán bán hàng, chòi nổi trên mặt nước. Dòng sông Đa Độ đã và đang hứng chịu ô nhiễm gây bẩn nghiêm trọng. Các doanh nghiệp như ôtô Hoa Mai, ôtô Hữu Nghị, nến châu Á, nến Thuận Sinh,… thường xả nước thải trực tiếp xuống sông Đa Độ không qua xử lý.
Sông Đa Độ, Hải Phòng bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Sông Rế dài chừng 20km, là nguồn cung cấp chính nước thô cho Nhà máy nước An Dương và Nhà máy nước Vật Cách, công suất hiện tại của 2 nhà máy là 200.000m 3 /ngày, cung cấp toàn bộ nước sạch cho huyện An Dương, các quận Lê Chân, Ngô Quyền, Hải An, Hồng Bàng. Dòng sông này đang bị ô nhiễm đáng báo động do xả thải vô tư, chưa có xử lý của các cơ sở: Công ty Hanvico tại phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng; Công ty thép Vinakansai; Công ty đóng tàu Hồng Hà tại xã Lê Thiện, huyện An Dương xả nước thải công nghiệp vào kênh Kim Xá. Cũng trên địa bàn huyện An Dương và quận Hồng Bàng còn có hàng chục cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản thực phẩm xả nước thải xuống kênh như các Công ty Quang Hưng, Thái Sơn, Tân Thuận Phong, Hoàng Huy, Minh Thanh…
Tình trạng xả nước thải và phế thải, rác thải rắn cũng đã và đang diễn ra công khai giữa thanh thiên bạch nhật với các kênh Chanh Dương, Ba Đồng ở huyện Vĩnh Bảo; sông Giá, Hòn Ngọc - nơi cung cấp nước cho các Nhà máy nước sạch Minh Đức, Thủy Sơn, huyện Thủy Nguyên; sông He cấp nước cho Nhà máy nước Đồ Sơn… Nước trên nhiều đoạn kênh, đoạn sông đen đặc, dầu mỡ lênh láng, lềnh bềnh túi nilon, xốp vụn, nồng nặc mùi hôi thối.
Mức độ ô nhiễm nước trên các tuyến sông nước ngọt của Hải Phòng không hề được cải thiện mà lại có dấu hiệu tăng dần sau mỗi lần quan trắc. Kết quả lấy mẫu nước tại 10 điểm trên sông Đa Độ và một số kênh thủy nông cấp I trong hệ thống do Viện Nghiên cứu khoa học thủy lợi Việt Nam cho thấy: Nồng độ ôxy hòa tan trong nước DO đạt 0,96mg02/l; hàm lượng coliform vượt 29,4 lần; E.coli vượt quy chuẩn từ 2,4 - 11 lần; hàm lượng amoni trong nước lên tới 7,7mg N/l, vượt từ 13 - 15 lần; hàm lượng NO 2 đạt 0,185 mN/l, vượt 4,63 lần; TSS trong nước là 340mg 02/l, vượt tiêu chuẩn cho phép 6,8 lần. Những con số đó cho thấy chất lượng nguồn nước dùng cho sản xuất nông nghiệp và cấp nước thô cho các nhà máy sản xuất nước sạch đều không an toàn.
Chính quyền TP. Hải Phòng và các đơn vị quản lý đã và đang triển khai nhiều biện pháp như: Công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi Đa Độ đã xây dựng đề án "Tăng cường quản lý công trình thủy lợi và bảo vệ nguồn nước giai đoạn 2010-2015" với các lộ trình cụ thể. Tuy nhiên, để bảo vệ các nguồn nước ngọt của Hải Phòng, cần phải có những biện pháp đồng bộ: Phải coi trọng công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm bảo vệ nguồn nước, cần sớm có quy hoạch hệ thống thu gom nước thải bệnh viện, khu công nghiệp tại địa phương; Tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước cùng với việc kiểm tra, xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm nhằm hạn chế suy giảm chất lượng nguồn cấp nước.

Nước kênh rạch ô nhiễm nghiêm trọng; tình trạng xâm nhập mặn; việc khai thác nước ngầm bừa bãi là những vấn đề đang ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân.
Đó là những bức xúc đặt ra tại hội thảo "Giải pháp bảo vệ môi trường nước sông, kênh rạch với sự tham gia của cộng đồng" do Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hồ Chí Minh tổ chức.
Kênh rạch trên địa bàn TP đang ô nhiễm nặng.
Theo báo cáo của Trung tâm Chất lượng nước và môi trường - Phân viện Quy hoạch khảo sát thủy lợi Nam bộ, các thành phần trong nước trên các kênh rạch của TP như BOD5 (nhu cầu oxy sinh học), COD (nhu cầu oxy hóa học), chỉ tiêu vi sinh, hàm lượng chất lơ lửng (SS), kim loại nặng… đều vượt tiêu chuẩn cho phép gấp nhiều lần. Điển hình các kênh Thầy Cai, An Hạ (huyện Củ Chi), kênh Bà Búp, Trần Quang Cơ (huyện Hóc Môn), Tân Trụ, Hy Vọng (quận Tân Bình)… nước có màu đen, mùi hôi rất nặng, nhiều chỉ tiêu đều vượt tiêu chuẩn cho phép.

Chưa hết, theo ông Nguyễn Văn Phước, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường (TNMT), hiện tình trạng lấn chiếm, vứt rác bừa bãi, xả nước thải trực tiếp xuống lòng kênh rạch còn khá phổ biến gây ảnh hưởng đến mỹ quan, cuộc sống của cộng đồng. Điển hình kênh, rạch bị xả rác nhiều, ô nhiễm nặng là rạch Bà Tiếng, Bà Lựu, Liên Xã (quận Bình Tân), rạch Bình Thái, Cầu Miếu (quận Thủ Đức), rạch Ông Đội, Bến Ngựa (quận 7)… Vào mùa khô, kênh rạch tại TP bị ô nhiễm nặng hơn mùa mưa do khả năng tự làm sạch của thủy vực không tốt.

Điều đáng lo ngại hơn, hệ thống kênh rạch bị ô nhiễm nặng đều liên thông với một số kênh chính đổ ra sông Sài Gòn. Điều đó có nghĩa là nước bẩn sẽ gây ô nhiễm sông Sài Gòn - nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân.

Chưa hết, theo Sở TNMT, nguồn nước khai thác phục vụ sinh hoạt cho người dân TP còn lấy từ sông Đồng Nai và kênh đông Củ Chi. Do TP nằm ở phần hạ lưu của lưu vực sông Ðồng Nai, chất lượng nguồn nước bị ảnh hưởng rất lớn do hoạt động kinh tế ở thượng nguồn và phụ thuộc vào các tỉnh lân cận trong việc bảo vệ nguồn nước. Tuy nhiên, công tác bảo vệ nguồn nước đầu nguồn của các địa phương trên cũng có vấn đề.

TP hiện có 3 tầng chứa nước chính là tầng Pleistocen Q I-II, Pliocentrei N22 và Pliocen dưới N21. Tổng trữ lượng của tầng chứa nước khoảng 600.000m3/ngày. Ngoài ảnh hưởng ô nhiễm sông và kênh rạch, hiện nhiều nơi mực nước đã hạ thấp đến trên 30m so với mặt đất và xu hướng này vẫn đang tiếp diễn với tốc độ từ 2m đến 3m/năm tạo điều kiện cho xâm nhập mặn đã và đang xảy ra ở khu vực phía tây và tây nam TP. Ngoài ra, việc khai thác nước dưới đất một cách bừa bãi, các giếng khai thác lại quá tập trung một khu vực, nhiều giếng kết cấu không bảo đảm việc cách ly chống ô nhiễm do thông tầng.

Tất cả những yếu tố trên cộng hưởng đã khiến nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho hàng triệu người dân TP đáng báo động.

Theo các chuyên gia, bên cạnh ý thức cộng đồng chưa tốt thì nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông, kênh rạch còn do chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế xã hội. Để có thể hạn chế thấp nhất tình trạng này, các chuyên gia cho rằng sự tham gia của cộng đồng mang yếu tố quyết định. Cụ thể, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nhận thức cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ thống thoát nước đô thị, đẩy mạnh xã hội hóa vấn đề bảo vệ nguồn nước, đặt bảng cấm, lắp camera, lập tổ giám sát và xử phạt, vận động nhân dân thành lập các mô hình tự quản trong bảo vệ môi trường…

Để giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm nguồn nước thải trong quá trình sản xuất, trả lại môi trường nước trong sạch cho dòng sông Ba, Gia Lai, Nhà máy đường An Khê đã đưa vào sử dụng khu xử xử lý nước thải được đầu tư hơn 21 tỷ đồng.
Một đoạn sông Ba bị ô nhiễm. (Nguồn: báo Gia Lai điện tử)
 


Khu xử lý nước thải được đầu tư xây dựng và hoạt động theo công nghệ “vi sinh, kỹ khí-yếu khí hai bậc khử nitơ," nước thải sẽ không trực tiếp thải ra môi trường mà qua quá trình xử lý rồi được bơm tái sử dụng vào quá trình sản xuất của nhà máy.

Hệ thống khu xử lý nước thải sẽ thu gom toàn bộ nước thải sinh ra trong quá trình sản xuất của nhà máy vào một bể biogas nhằm khử mùi hôi, rồi sau đó được đưa qua một bể sinh học xử lý cơ bản những chất cặn bã, những chất độc hại rồi tiếp đưa qua bể sục khí khử nitơ sẽ loại bỏ hết những tạp chất độc hại còn sót lại.

Cuối cùng nước thải được đưa qua bể lắng và khử trong. Sau đó nước không còn tạp chất sẽ được bơm tuần hoàn tái sử dụng lại.

Ông Nguyễn Văn Hảo, Phó Giám đốc Nhà máy đường An Khê cho biết để giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường do nhà máy gây ra trong quá trình sản xuất, năm nay nhà máy đã đầu tư hơn 21 tỷ đồng xây dựng khu xử lý nước thải. Bước đầu đưa vào sử dụng đã cho thấy tỉnh hiệu quả của hệ thống.

Hiện nay, mức độ ô nhiễm vẫn còn cao hơn mức cho phép do hệ thống chưa hoàn thiện và công suất nhà máy hoạt động chưa được ổn định. Tuy nhiên khi hệ thống đi vào hoạt động bình thường sẽ giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm.


TP.HCM đang "lâm nguy" trước tình trạng ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa sẽ có nhà máy nước bị đóng cửa, nhiều khu dân cư sống trong hôi thối, nguồn lợi thủy sản, nông sản... bị hủy diệt.

Nha-may-loc-nuoc-sap-phai-ngung-hoat-dong-do-nuoc-bi-o-nhiem


Báo động nguồn nước ô nhiễm


"Thủ phạm" là các bãi rác, các khu công nghiệp đang ngày đêm tuôn ra một lượng nước thải khổng lồ không qua xử lý.

"Tình trạng ô nhiễm nguồn nước cứ tăng dần một cách không kiểm soát như hiện nay thì không bao lâu nữa Nhà máy nước Tân Hiệp đang cung cấp nước cho hàng triệu cư dân TP.HCM có nguy cơ ngưng hoạt động" - ông Bùi Thanh Giang, giám đốc nhà máy nước này, cảnh báo.

Có thể rồi đây sẽ phải đóng cửa Nhà máy nước Tân Hiệp nếu như ô nhiễm trên sông Sài Gòn không được giải quyết rốt ráo. Nguy cơ này trở thành hiện thực thì hàng triệu cư dân TP.HCM sẽ lâm vào cảnh "khát nước".

Bà Nguyễn Thị Hường, phó ban kỹ thuật phụ trách kiểm nghiệm Nhà máy nước Tân Hiệp (NMNTH), cho biết trong các chất gây ô nhiễm đáng báo động là hàm lượng amoniac tăng cao và dao động liên tục gây rất nhiều khó khăn trong quá trình xử lý nước. Nếu trước đây chất này chỉ dao động trong khoảng 0,02-0,03mg/lít thì giờ tăng lên 0,55mg/lít, có thời điểm tăng đến 1,03mg/lít (cao gấp 20 lần so với tiêu chuẩn qui định).

Ô nhiễm nặng nề

Ông Bùi Thanh Giang - giám đốc NMNTH - nói: "Trước đây amoniac chỉ tăng theo mùa hoặc theo thủy triều, hiện nay biến đổi liên tục trong ngày. Điều này làm cho qui trình xử lý NMNTH trở nên phức tạp, khó đảm bảo chất lượng nước đầu ra. Đến một lúc nào đó, có thể chúng tôi phải giảm công suất và nhiều khả năng sẽ phải ngưng hoạt động toàn bộ nhà máy".

Một cán bộ kỹ thuật NMNTH giải thích thêm: theo cơ chế, khi châm clo vào các bể xử lý nước sẽ có tác động trước tiên với amoniac, sau đó mới tác động tới mangan, diệt vi khuẩn...

Tuy nhiên do hàm lượng amoniac quá cao sẽ "lấy" gần hết clo, khi đó nguồn clo còn lại không đủ để xử lý mangan và diệt khuẩn... Trong khi đó, theo thiết kế công suất máy, việc châm clo đã hoạt động hết công suất nên không thể can thiệp bằng cách châm thêm clo vào vì còn liên quan đến nhiều vấn đề kỹ thuật khác. Không chỉ amoniac, chuyện ô nhiễm các kim loại nặng trong nguồn nước sông Sài Gòn cũng là một vấn đề đáng lo ngại vì qui trình của NMNTH rất khó xử lý các chất này.

Nước thải tuồn thẳng ra sông
Đường thoát nước này dẫn nước thải từ Khu công nghiệp Tân Qui đổ ra kênh Bà Bếp rồi chảy ra sông Sài Gòn Ảnh: QUANG KHẢI
Theo ông Bùi Thanh Giang, chất lượng nguồn nước sông Sài Gòn liên tục "nhảy múa" là do tình trạng nước thải từ các khu dân cư, khu công nghiệp lân cận trạm bơm Hòa Phú như Khu công nghiệp Tân Qui (Củ Chi), Tân Phú Trung và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương chưa được xử lý tốt nhưng lại tuồn thẳng ra sông.

Chỉ tay xuống mương nước đen như mực tàu, bốc mùi hôi nồng nặc, anh Huỳnh Văn Tây, đại biểu Hội đồng nhân dân xã Hòa Phú, bức xúc nói: "Khi nào có đoàn kiểm tra môi trường xuống hoặc có đại biểu tiếp xúc cử tri thì nước con kênh mới đỡ hôi, sau đó lại ô nhiễm nặng. Tôi nhiều lần phản ảnh lên xã, huyện... nhưng tình trạng ô nhiễm vẫn không có gì thay đổi".

Anh Đinh Tuấn Ba, ở ấp 3, xã Hòa Phú, cho biết thêm: "Khoảng 20g-21g là các đơn vị trong khu công nghiệp bắt đầu xả nước thải nên nhà nào cũng phải đóng cửa kín mít từ sớm mà mùi hôi vẫn xộc vào. Chịu không nổi!".

Mới đây, ngày 28-8, một đoàn khảo sát liên ngành do ông Lê Trường Giang - phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM - chủ trì đã tiến hành thị sát chất lượng nước xung quanh trạm bơm Hòa Phú và khẳng định nguồn nước khu vực này đang bị ô nhiễm.

Theo Sở Y tế, trong tổng số 15 doanh nghiệp, công ty tại Khu công nghiệp Tân Qui có đến 11 đơn vị có nước thải ô nhiễm nặng hữu cơ và hóa chất độc hại. Quá trình khảo sát thực tế cho thấy nước thải có màu đen, mùi hôi, làm ảnh hưởng đến đời sống khu dân cư xung quanh.

Tuy nhiên, hiện khu công nghiệp này chưa có ban quản lý nên khó kiểm soát được nước thải của các nhà máy. "Có khả năng công ty, xí nghiệp có hệ thống xử lý nước thải nhưng không vận hành thường xuyên, có lúc thải nước chưa xử lý ra ngoài vào ban đêm như người dân phản ảnh..." - Sở Y tế kết luận.

Tiếng kêu không thấu "trời xanh"


Trong khi người dân nhiều khu vực phải vất vả mua từng can nước sạch thì Nhà máy nước Tân Hiệp đang có nguy cơ đóng cửa vì nguồn nước ô nhiễm
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên sông Sài Gòn không phải là vấn đề mới. Lãnh đạo NMNTH nói mặc dù là đơn vị sử dụng trực tiếp nguồn nước sông Sài Gòn nhưng không đủ thẩm quyền để giải quyết vấn đề ô nhiễm mà chỉ "kêu gào" với các cơ quan quản lý địa phương, Sở Tài nguyên - môi trường, thậm chí đến UBND TP.HCM. Tuy nhiên, liên tục nhiều năm nay tiếng kêu chưa thấu "trời xanh" nên việc ô nhiễm vẫn ngày càng diễn biến nghiêm trọng.

Ông Bùi Thanh Giang cho biết để đảm bảo nước ra từ NMNTH đạt chất lượng theo tiêu chuẩn, Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn đã phải tăng gần gấp đôi chi phí xử lý hóa chất, tăng định mức điện... và hiện phải sản xuất trong tình trạng cầm cự.

Trong khi đó, Sở Y tế còn cho rằng vị trí lấy nước hiện nay của trạm Hóa An cũng không phù hợp do ở khu vực tiếp nhận cả sự ô nhiễm của thượng nguồn lẫn hạ nguồn, đồng thời đề xuất nên dời điểm tiếp nhận của NMNTH lên vị trí gần hồ Dầu Tiếng (thuộc tỉnh Tây Ninh). Theo ông Bùi Thanh Giang, việc này sẽ khó khả thi, tốn nhiều tiền bạc và công sức.

Điều đáng nói là giữa lúc "dầu sôi lửa bỏng" nhưng các cơ quan được giao nhiệm vụ "gác cửa" về môi trường TP lại "giậm chân tại chỗ" trong việc xác định nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước sông Sài Gòn.

Ông Nguyễn Văn Phước, phó giám đốc Sở Tài nguyên - môi trường, cho biết đã bàn giao việc này cho đơn vị trực thuộc sở là Chi cục Bảo vệ môi trường. Thế nhưng ngày 20-9, ông Trịnh Thanh Nhã - chi cục phó Chi cục Bảo vệ môi trường - lại nói: "Chỉ giám sát chất lượng chung chung thôi chứ không làm chi tiết vì tốn kinh phí rất lớn. Nhìn thấy nhà máy xả nước gây ô nhiễm thì mình chỉ ghi nhận chứ đâu nói được cụ thể khu vực đó có bao nhiêu nhà máy, tổng lượng nước xả, mức độ ô nhiễm...".

Về việc các khu công nghiệp ở Bình Dương cũng là một nguồn gây ô nhiễm sông Sài Gòn, ông Nhã cho rằng "không thể tự nhiên qua nhà người ta kiểm tra được trừ khi Bộ Tài nguyên - môi trường, Cục đường sông thấy vấn đề bức bách chỉ đạo phối hợp thực hiện". Cũng theo lời ông Nhã, đã báo cáo số liệu quan trắc chất lượng nguồn nước sông Sài Gòn cho các đơn vị cấp cao hơn như sở và Bộ Tài nguyên - môi trường.

Những con số báo động
Nhà máy nước Tân Hiệp lấy nước mặt từ sông Sài Gòn (tại trạm bơm Hòa Phú, huyện Củ Chi) xử lý thành nước sạch với công suất 300.000m3/ngày (hiện chạy ở mức 280.000m3/ngày), hoạt động chính thức từ giữa năm 2004, là nơi cung cấp nước sạch cho hàng triệu người dân tại các quận huyện: 6, 7, 8, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Gò Vấp, Nhà Bè, Bình Chánh...

Theo báo cáo của Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn, tình trạng ô nhiễm trên sông Sài Gòn đã đến mức báo động. Các số liệu quan trắc chất lượng nước khu vực thượng và hạ nguồn của trạm bơm Hòa Phú (trạm bơm lấy nước sông Sài Gòn cung cấp cho Nhà máy nước Tân Hiệp) cho thấy các chỉ tiêu về độ đục, mangan tăng 4-7 lần so với năm 2005, amoniac tăng gấp 10 lần và ngày càng diễn biến xấu hơn.

Đặc biệt, chỉ tiêu về coliform (gây bệnh đường ruột) có thời điểm tăng đến 50 lần so với năm 2005. Chỉ tính riêng trong ba tháng 6, 7 và 8-2007 thì các chỉ tiêu về độ đục, mangan, amoniac tiếp tục tăng gấp đôi so với cùng thời điểm của năm 2006.

Các dòng kênh trong nội thành bị ô nhiễm đã đành, các dòng sông lớn cung cấp nước sinh hoạt cho hàng chục triệu con người cũng không thoát khỏi số phận tương tự.
Theo thống kê, hệ thống kênh rạch của thành phố mỗi ngày bị đầu độc bởi "sơ sơ"... 40 tấn rác thải các loại và 70.000m3 nước thải công nghiệp chưa qua xử lý. Trong khu vực nội thành, những dòng kênh như Nhiêu Lộc - Thị Nghè, kênh Đôi - kênh Tẻ, kênh Tàu Hũ, Tân Hóa - Lò Gốm bị ô nhiễm từ vài chục năm nay là chuyện đã đành thì đến hiện nay ngay khu vực ngoại thành từ Bình Chánh, Hóc Môn đến Củ Chi... những dòng kênh vốn phục vụ cho việc tưới tiêu trước đây nay cũng biến thành những dòng kênh mà người dân đã gọi là kênh sủi bọt, kênh ngứa, kênh nín thở...
Các dòng kênh tại TP.HCM luôn luôn có màu đen và trong tình trạng ngập ngụa rác
Trung tâm Y tế dự phòng TP.HCM cho biết, sau những đợt kiểm tra, lấy mẫu nước ở các ghe, sà lan để xét nghiệm, kết quả về vi sinh 16,36% không đạt tiêu chuẩn, về hóa lý gần 4% các mẫu không đạt. Các mẫu không đạt hầu hết chứa các vi khuẩn Coliforms, E.coli.
Đáng lưu ý là chất lượng nước sinh hoạt, ăn uống của người dân cũng không đạt tiêu chuẩn. Theo thống kê của Trung tâm Y tế dự phòng TP. HCM trong năm 2011, chất lượng nước gia đình ở các hộ dân nhiều nơi không ổn định. Các mẫu nước không đạt chuẩn vi sinh tập trung nhiều ở các quận: quận 7, 9, Bình Thạnh, Tân Phú, Phú Nhuận. Về hóa lý, các mẫu không đạt tập trung nhiều ở quận 6 và Bình Thạnh. Hầu hết không đạt về chỉ tiêu Permanganat, một số mẫu bị nhiễm sắt.
Về nước giếng ở các hộ dân, hầu hết các hộ dân không khử trùng khi sử dụng. Đa phần nước giếng ở các hộ dân đều nhiễm bẩn hữu cơ (amoni, nitrat, nitrit...).
Theo BS Hoàng Thị Ngọc Ngân, Trưởng khoa sức khỏe cộng đồng Trung tâm Y tế dự phòng TP.HCM, nguyên nhân nguồn nước sông Sài Gòn – Đồng Nai bị ô nhiễm như hiện nay một phần là do nước thải từ hoạt động sinh hoạt và công nghiệp tại khu vực Củ Chi, Hóc Môn và từ một lượng lớn nước thải sinh hoạt và công nghiệp từ thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương) đổ ra sông Sài Gòn; đồng thời nước thải sinh hoạt và công nghiệp từ TP Biên Hòa (Đồng Nai) đổ ra làm cho chất lượng nước sông Sài Gòn – Đồng Nai ngày càng xấu đi.
Theo các chuyên gia, E.coli là một loại vi khuẩn gây bệnh, có nhiều dạng thể, đa phần vi khuẩn này gây ra viêm đường ruột, tiêu chảy và ói mữa; ở một thể khác có thể xâm lấn gây ra viêm mật. Riêng Coliform là vi khuẩn chỉ điểm để xác định nguồn nước bị ô nhiễm và thường đi kèm với một số vi khuẩn gây bệnh khác. Trong khi đó, theo tiêu chuẩn của bộ Y tế về chất lượng nước ăn uống thì số lượng vi khuẩn E.Coli và Coliform phải bằng 0.
Ô nhiễm không chỉ là chuyện của các dòng kênh mà ngay cả lưu vực sông Đồng Nai, trong đó có sông Sài Gòn nguồn cấp nước sinh hoạt cho hơn 10 triệu dân của khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam cũng đang bị đầu độc. Hoạt động công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển đô thị... được các nhà khoa học xem là nguyên nhân chính gây ô nhiễm cho lưu vực hệ thống sông Đồng Nai nói chung và sông Sài Gòn nói riêng.
Chỉ tính riêng các BV đóng trên địa bàn TP.HCM, mỗi ngày cũng thải ra môi trường khoảng 23.000m3 nước thải y tế. Phần lớn trong số đó do nhiều BV chưa có hệ thống xử lý hoặc có nhưng không đạt chuẩn nên nước thải y tế được chảy thẳng trực tiếp ra môi trường. Theo thống kê của Trung tâm Y tế dự phòng TP.HCM, chỉ tính riêng các phòng khám đa khoa đóng trên địa bàn thì có đến 78,71% các cơ sở chưa có hệ thống xử lý nước thải.
Phía thượng nguồn của lưu vực trên sông La Ngà, hồ Trị An, hồ Dầu Tiếng... người ta vẫn cứ vô tư nuôi cá bằng phân gà, phân heo
Theo số liệu của Bộ Tài nguyên Môi trường, trong lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có gần 500 làng nghề, 9.000 cơ sở sản xuất, 1.633 cơ sở y tế... xả nước thải vào lưu vực sông này; trong đó hầu hết nước thải chưa qua xử lý. Ngoài ra, hiện nay phía thượng nguồn của lưu vực trên sông La Ngà, hồ Trị An, hồ Dầu Tiếng,... người ta vẫn cứ vô tư nuôi cá bằng phân gà, phân heo.
Theo các chuyên gia y tế, hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người chết do các bệnh liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư ngày càng tăng lên. Ngoài ra, tỉ lệ trẻ em tử vong tại các khu vực bị ô nhiễmnguồn nước là rất cao.
Ngoài nguồn chất thải công nghiệp, nước thải từ đất liền đổ ra, từ hoạt động, tai nạn tàu bè… thời gian gần đây môi trường ven biển vùng ĐBSCL còn gánh thêm nguy cơ từ biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng. Trong khi các giải pháp để hạn chế vấn nạn này dường như vẫn còn đang ở phía trước.
Đó là cảnh báo được các đại biểu nêu ra tại Hội thảo khoa học “Bảo vệ môi trường và môi trường biển các tỉnh ĐBSCL” do Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tổ chức hôm 14/12 tại TP Rạch Giá (Kiên Giang).
Cửa sông Dương Đông (Phú Quốc - Kiên Giang) được xem như “cổng” chính dẫn nước thải từ khu dân cư "đầu độc" biển

Tại hội thảo, các đại biểu thống nhất cho rằng, tuy chưa được xếp vào loại ô nhiễm nghiêm trọng như một số quốc gia trên thế giới, nhưng biển Việt Nam đang ở giai đoạn báo động và có nguy cơ ô nhiễm cao trong tương lai gần. Bởi bên cạnh việc phải đối mặt với thực trạng cũ, như: hứng chất thải công nghiệp đổ ra từ các cửa sông, ô nhiễm chất hữu cơ từ nuôi trồng hải sản, từ hoạt động du lịch biển… môi trường biển ĐBSCL đang đối mặt với nguy cơ từ xu hướng phát triển mạnh các khu công nghiệp ở các vùng duyên hải và hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí. 
Chính vì vậy, môi trường biển Việt Nam nói chung, ĐBSCL nói riêng suy giảm mạnh: Đã có 70 loài hải sản được đưa vào Sách đỏ và 85 loài được đưa vào tình trạng nguy cấp với nhiều cấp độ khác nhau… Không dừng lại ở đó, môi trường biển nơi đây đã và đang tiềm ẩn nguy cơ tăng vọt khi diện tích rừng ngập mặn ven bờ đang mất với tốc độ rất cao: Chỉ trong 50 năm gần đây đã mất 80% diện tích rừng ngập mặn. Điều này không chỉ đánh mất vẻ đẹp bờ biển, lợi thế của nền công nghiệp không khói, mà còn hủy hoại luôn “nhà máy lọc khổng lồ” của môi trường biển. 
ThS Nguyễn Văn Khiết  - Chủ tịch LH Hội KHKT Kiên Giang nhìn nhận: “Phú Quốc được xem là vùng biển đẹp của ĐBSCL nhưng thời gian gần đây môi trường biển đang có nhiều dấu hiệu bị ô nhiễm. Thậm chí rác thải đang hàng ngày, hàng giờ tác động đến hòn đảo xinh đẹp này”. Trong khi đó, theo các đại biểu, do ĐBSCL là một trong những “điểm nóng” của nạn biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng nên đã gia tăng tác động tiêu cực đến môi trường biển nơi đây ngày càng quyết liệt và khốc liệt.  
Tuy nhiên, điều khiến các đại biểu lo lắng hơn là mãi đến nay hành lang pháp lý bảo vệ môi trường biển chưa đủ để răn đe, ngăn chặn và hạn chế những hành vi xâm hại đến môi trường biển. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu cụ thể để tham gia hiến kế và đề xuất các giải pháp khả thi trong việc bảo vệ môi trường biển vẫn chưa thực sự đầy đủ và hoàn thiện.

Hơn 2 năm qua, người dân thôn Tân Lập, xã An Mỹ, huyện Tuy An (tỉnh Phú Yên) hàng ngày phải tằn tiện, chắt chiu từng giọt nước để sinh hoạt.
Ảnh minh họa
  
Theo ông Nguyễn Văn Hùng, Trưởng thôn Tân Lập cho biết: Thôn thiếu nước sinh hoạt từ khi dự án xây dựng đường cứu hộ, cứu nạn, tránh lũ Tuy An - Sơn Hòa, san ủi đỉnh núi Miếu Bà để thi công, cắt mất nguồn nước ngầm từ núi ra suối Miếu Bà - nơi cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong thôn. Hiện tại, vào mùa mưa người dân trong thôn phải đào từng hố có đường kính khoảng 30 - 40 cm, sâu khoảng 20 - 30 cm bên vỉa đường đang thi công, lắng nước ngầm từ vách núi bị cắt để mở đường chảy ra rồi dùng ống nước nhỏ đường kính từ 9 - 10 mm và dài hàng trăm mét dẫn về nhà để ăn uống; còn tắm rửa, giặt giũ thì phải tranh thủ những lúc lên rừng làm rẫy, chăn bò hoặc vào suối ở trong núi cách vài km mà sinh hoạt. Hiện nay, tất cả 89 hộ với 397 người dân trong thôn nhà nào cũng xây một bể chứa khoảng 2-3 m3 để trữ nước, các mái nhà đều được làm máng để lấy nước mưa tích vào bể chứa. Vào mùa nắng, các mạch nước ngầm trong núi không còn chảy nên người dân phải đi lấy nước suối về sinh hoạt, rất vất vả, đường xá xa xôi, gập gềnh dễ ngã khi chở từng thùng, từng can nước. 

Cũng theo ông Hùng, để có nước sinh hoạt, trước đây nhiều hộ dân đã thuê người về đào giếng, khoan giếng, nhưng không được do địa hình của thôn là vùng gò đồi, gặp đá rất khó khoan và chi phí rất cao. Trước đây, Trung tâm nước sạch của tỉnh đã tiến hành khoan giếng thử nghiệm tại thôn sâu tới 81 mét mà vẫn chưa có nước. 

Bên cạnh đó, do thi công dự án nên một số đường dân sinh trong thôn bị chia cắt, đường nối với trung tâm xã đang thi công, đi lại gặp nhiều trở ngại làm cho cuộc sống của các hộ dân gặp rất nhiều khó khăn, các sản phẩm nông - lâm nghiệp do người dân sản xuất rất khó tiêu thụ, vào mùa mưa thì đường đi lầy lội, trơn trợt dễ ngã, mùa nắng thì bụi bay mù mịt, ngày cũng như đêm nhà nào cũng đóng kín cửa. 

Mong muốn lớn nhất của người dân thôn Tân Lập hiện nay là xây dựng được một bể chứa nước ở Gò Long Mả Năm Ông để cung cấp nước sinh hoạt cho người dân vì nước ở đây sạch, trong và nhiều.